Văn học

Soạn bài viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ Văn 11 Sách kết nối tri thức + Cánh diều

1. Soạn bài viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ – sách Kết nối tri thức

1.1 Phân tích bài viết tham khảo: Tĩnh dạ tứ

Yêu cầu

– Giới thiệu một cách ngắn gọn về tác giả và tác phẩm (tác giả, vị trí của tác phẩm, lý do để lựa chọn bài thơ;…).

– Xác định được rõ ràng trọng tâm vấn đề cần được bàn luận ở trong bài viết (cấu tứ rất độc đáo có trong bài thơ và sự chi phối của cấu tứ đến hệ thống hình ảnh ở trong tác phẩm).

– Xem xét các vấn đề một cách toàn diện nhất theo từng khía cạnh cụ thể bằng những lí lẽ và cùng với bằng chứng thật xác đáng.

– Đánh giá được những nét đặc sắc về cấu tứ và trong hình ảnh của bài thơ cũng như giá trị của chúng trong việc thể hiện nên được những khám phá mới về con người và cuộc sống hiện tại.

a. Trả lời câu hỏi trong khi đọc

Câu 1: Giới thiệu khái quát về bài thơ.

“Tĩnh dạ tứ” là bài thơ thuộc đề tài “nguyệt dạ tư hương” mà chúng ta đã từng được gặp ở trong thơ Đường. Bài thơ “Tĩnh dạ tứ” có hai cách để hiểu đó chính là “Nỗi nhớ trong đêm thanh tĩnh và Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” và nó thuộc đề tài “nguyệt dạ tư hương” rất thường gặp ở trong thơ Đường.

Câu 2: Nêu khái quát về cấu tứ của các bài thơ và nêu ra được các định hướng qua đó phân tích, đánh giá.

Một đêm đầy sự yên tĩnh ở trên con đường lữ khách, tình quê hương chứa đầy những sự ngổn ngang, muôn lối; nhà thơ đã chớp lấy được một cảm giác có những sự sai lạc, tức cảnh sinh tình, viết nên một bài thơ cực kỳ tuyệt diệu. Bài thơ đã viết về khung cảnh về một đêm đầy yên tĩnh ở trên con đường lữ hành và ẩn sâu ở trong đó hiện lên đó chính là tình yêu thương và hướng về quê hương tuôn trào. Bởi vậy, trong hướng đi của bài thơ sẽ có thể là những miêu tả về một đêm trăng tịch mịch, qua đó cũng làm nổi bật lên được tâm trạng chính của nhân vật trữ tình trong câu chuyện.

Câu 3: Phân tích và đánh giá từng phần ở trong bài thơ.

– Ở trong hai câu thơ đầu: Ngay ở trong câu đầu tiên ta đã thấy được tâm trạng chính của nhân vật trữ tình trong câu chuyện, đang thao thức, thì bỗng bị tỉnh giấc bởi ánh sáng rọi vào của vầng trăng trong ở trong buổi đêm khuya. Từ lâu, ánh trăng vẫn luôn là người bạn của các nhà văn, nhà thơ, đây chính là một hình ảnh vô cùng quen thuộc để gợi nhớ về miền quê hương, đất nước, quê nhà. Và ở đây, Lý Bạch cũng đã bắt gặp được vầng trăng như vậy, nó đã mở ra ở trong tâm trí của tác giả về một nỗi nhớ trong tiềm thức và ánh trăng đã mở ra, rọi chiếu sáng cho tất cả sự vật.

– Trong hai câu thơ cuối: Nhà thơ đã bất giác tỉnh dậy, ngước lên nhìn vầng trăng sáng nhưng chỉ cần gói gọn ở trong khoảnh khắc đó, ông đã dường như nhận ra được tri kỷ của mình, nhớ nhung về quê hương của mình và bất giác và ông đã cúi đầu xuống. Nhưng hành động ấy của ông lại chỉ khiến cho ông càng cảm thấy nhớ nhung hơn về quê nhà của bản thân mình, nơi mà ông đã được sinh ra, lời nơi chôn nhau cắt rốn của chính ông, có những kỷ niệm thời trước bỗng chợt ùa về đã khiến cho một kẻ đang tha hương lại càng trở nên buồn bã khôn nguôi vì nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương.

Câu 4: Chú ý làm rõ nên tính khái quát của hệ thống hình ảnh, chi tiết.

– Ánh trăng soi sáng xuyên vào tới tận phòng cho biết rằng đêm sâu, nhân thấy ánh trăng đang rọi sáng phía đầu giường rõ ràng là do người không ngủ.

– Nhà thơ đã ngẩng đầu lên để ngắm trăng sáng vì ông thấy trăng giống như thấy “cố tri”.

– Nhà thơ gặp lại ánh trăng giống như là ông được gặp lại những người quen trước đây, thấy được ánh trăng mà lại sinh ra nỗi nhớ da diết.

– Ánh trăng đã khiến cho lòng người thêm phần xót xa, nỗi nhớ da diết về quê nhà trĩu nặng trong long và đã khiến cho mái đầu của tác giả đã cúi xuống.

– Chủ đề của bài thơ là “tư hương” nhưng lại dành đến tận ba câu để miêu tả trăng, đến câu tâm niệm là “tư cố hương” thì liền dừng lại miêu tả trăng.

→ Đánh giá: Lấy những cái vô tình nói tình thì những cái tất tình hiện ra, lấy những cái vô ý tả ý thì ý sẽ trở nên chân thật. Ở đây “lấy cái vô tình” là đã sử dụng đến những ba câu thoe chỉ dùng để miêu tả trăng. “Lấy cái vô ý” ở đây có nghĩa là các động tác “cử đầu” và “đê đầu” đều giống như là một phản xạ tự nhiên, “vô ý”, do sự “điều khiển” một cách tự nhiên gần như là hành động vô thức.

→ Kết luận: Tĩnh dạ tứ là một tác phẩm có tính chất vô cùng tự nhiên, chân thực nhưng cũng đầy những hàm ý trong bài thơ.

Đăng ký ngay để được các thầy cô tư vấn và xây dựng lộ trình ôn thi sớm môn Ngữ Văn tốt nghiệp THPT đạt 9+ nhé!

b. Trả lời câu hỏi sau khi đọc

Câu 1 trang 69 SGK Văn 11/1 Kết nối tri thức

Bài thơ đã được giới thiệu như thế nào?

Lời giải chi tiết:

Bài thơ được giới thiệu một cách vô cùng ngắn gọn về cách để hiểu được nhan đề của bài thơ. Đó chính là việc bài thơ này có thể được hiểu theo hai nghĩa “Tĩnh dạ tư” (Nỗi nhớ trong một đêm thanh tĩnh), “Tĩnh dạ tứ” (Cảm nghĩ vào trong một đêm trăng thanh tĩnh).

Câu 2 trang 69 SGK Văn 11/1 Kết nối tri thức

Hãy xác định về trình tự, logic được triển khai trong hệ thống các ý trong bài viết.

Lời giải chi tiết:

– Trình tự mà tác giả đã triển khai hệ thống các ý có trong bài viết được đưa ra từ mức độ khái quát cho đến mức cụ thể:

+ Mở đầu phần giới thiệu đó chính là bằng cách nói sơ lược về cách để hiểu nhan đề của tác phẩm.

+ Tiếp đến chính là lối cấu tứ được sử dụng độc đáo ở trong bài thơ.

+ Phân tích được những chi tiết hệ thống những hình ảnh xuất hiện ở trong bài thơ.

+ Đưa ra được những đánh giá chung nhất về tác phẩm.

+ Cuối cùng là được ra một kết luận lại

→ Đây chính là một trình tự hết sức hợp lý và rất phù hợp với mục đích nhằm phân tích một bài thơ.

Câu 3 trang 69 SGK Văn 11/1 Kết nối tri thức

Cấu tứ và tính chất khái quát về những hình ảnh được sử dụng trong bài thơ đã được người viết đề cập đến ở phân đoạn nào, câu nào?

Lời giải chi tiết:

Về cấu tứ và tính chất khái quát của những hình ảnh được sử dụng ở trong bài thơ được người viết đề cập đến ở trong hai câu cuối của bài thơ ấy “Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương”. Hai câu thơ này đã làm sáng tỏ được nên tâm trạng bồi hồi của nhân vật trữ tình, soi sáng ra được nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương da diết khôn nguôi của tác giả. Trong không gian yên ắng tịch mịch, hình ảnh ánh trăng đã hiện lên giống như một người bạn tâm giao, người bạn tri kỷ của nhà thơ lúc ấy, đó cũng là hiện thân của nhà, của quê hương tươi đẹp, của những tháng ngày vui vẻ và bình yên tại gia. Những cử chỉ là vô ý mà tưởng chừng như là cử chỉ hữu ý “ngẩng – cúi” những hành động diễn ra một cách cực kỳ tự nhiên, ngay cả nhân vật trữ tình trong tác phẩm dường như cũng không nhận ra được điều ấy, bởi cảm xúc của nhân vật trữ tình giống như đang bị nuốt trọn bởi một nỗi niềm nhung nhớ quê hương da diết của một vị lữ khách xa quê. Bởi vậy, ở hai câu thơ cuối ấy đã lột tả được rõ nét nhất về cấu tứ của toàn bộ bài thơ, đã thể hiện một cách rõ nét nhất về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong câu chuyện.

1.2 Soạn bài viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ: Thực hành viết

a. Lập dàn ý đề bài nghị luận về tác phẩm “ Tràng Giang” của Huy Cận

– Tìm ý

Chúng ta có thể tự đặt ra một số các câu hỏi và xếp theo nhóm như dưới đây để tìm ý:

Yêu cầu chung đối với việc bàn luận về các tác phẩm thơ

– Bài thơ được sáng tác bởi tác giả nào? bài thơ được sáng tác ở trong hoàn cảnh nào?, bài thơ được xuất bản ở đâu, và đã từng được người đọc đón nhận ra sao?

– Vấn đề chính mà chúng ta sẽ bàn luận tới ở trong bài viết này sẽ là gì? Những phương diện về nội dung hay nghệ thuật nào của bài thơ sẽ được đề cập trong bài nghị luận?

– Ở trên từng phương diện được đề cập ở trên, giá trị của bài thơ đã được thể hiện ra như thế nào? Câu thơ, chi tiết, những hình ảnh nào đã chứng tỏ điều đó? Có những kết quả về nghiên cứu, phê bình nào sẽ là những kết quả đáng được chú ý về vấn đề sẽ được triển khai ở trong bài viết nghị luận?

– Bài thơ này đã tác động tới bạn như thế nào? Qua việc khám phá tác phẩm cụ thể này, bạn đã tích lũy được những kinh nghiệm gì về việc đọc, phân một văn bản thơ nói chung?

Tìm hiểu, đánh giá phần cấu tứ của bài thơ

– Bài thơ đã hình thành và hoàn thiện được là dựa trên những ý tưởng cơ bản nào? Điều gì đã thúc đẩy cho những ý tưởng ấy được thể hiện nên một cách sinh động?

– Có thể nêu lên những nhận định một cách khái quát gì về phần cấu tứ của bài thơ? Nhận định này có đặc điểm gì khác biệt so với những nhận định đã từng có từ trước và đã bao quát được hết mọi yếu tố để cấu thành nên một bài thơ chưa?

– Với cách mà phần cấu tứ đã nêu, bài thơ đã thể hiện được những phát hiện riêng gì về bản thân nhà thơ hay về thế giới và con người?

Tìm hiểu và phân tích về hệ thống hình ảnh được sử dụng ở trong bài thơ

– Bài thơ đã sử dụng những hình ảnh nào? Những loại hình ảnh đó có thể gợi lên cho người đọc những ấn tượng và liên tưởng gì?

– Có thể nhìn nhận được như thế nào về tính logic và sự kết nối giữa các hình ảnh ở trong bài thơ với nhau? Cấu tứ của bài thơ đã chi phối sự kết nối này như thế nào?

– Theo mạch triển khai những ý ở trong bài thơ, giữa các hình ảnh có những sự vận động và phát triển nào là đáng chú ý?

– Có thể nói thêm gì về những hàm nghĩa thể hiện bằng những hình ảnh có trong bài thơ? Sự chuyển hóa ở trong mặt ý nghĩa của những hình ảnh đã được thể hiện trong tác phẩm như thế nào?

– Lập dàn ý

Mở bài Giới thiệu chung và khái quát về bài thơ xác định được những vấn đề sẽ cần được tập trung và bàn luận ở trong bài viết. Thân bài

Cần triển khai các ý trong bài thơ:

– Cảm giác chung mà phần cấu tứ cùng với những hình ảnh và cách diễn tả có phần khác lạ ở trong bài thơ đã gợi lên cho người đọc.

– Sự khác biệt ở trong bài thơ này so với những bài thơ khác ở trên phương diện dùng để xây dựng hệ thống hình ảnh và tạo nên được sự kết nối giữa các bộ phận cấu tạo có trong bài thơ (thực hiện được những so sánh là cần thiết để chỉ ra được những sự khác biệt với nhau).

– Những khả năng để hiểu (cắt nghĩa) sẽ khác nhau đối với một số những yếu tố, hình ảnh có trong bài thơ số chín (cần nêu ra cụ thể).

– Điều cần được làm sáng tỏ thông qua việc đọc, thăm dò và làm những thử nghiệm về các cách đọc hiểu khác nhau đối với các bài thơ.

– Sự gợi mở về một số cách nhìn mới đối với thế giới và đối với con người được đề xuất từ mạch ngầm ở trong văn bản hay bài thơ.

Kết bài Khẳng định lại được sự độc đáo trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ và ý nghĩa của bài thơ đó đối với việc đem lại một cách nhìn, cách đọc mới mẻ hơn cho các đọc giả.

b. Viết bài văn nghị luận

Con người chúng ta luôn luôn bị chi phối bởi yếu tố hoàn cảnh, các nhà thơ nổi lên ở trong phong trào Thơ mới giống như vậy, hoàn cảnh của thời đại đã đưa họ đến và tiếp cận với một nền thơ mới mẻ, những vần thơ đầy sâu sắc, chứa chan được tình yêu quê hương, đất nước vô cùng sâu đậm. Tiêu biểu ở trong đó chúng ta cần phải kể đến đó chính là nhà thơ Huy Cận cùng với tác phẩm Tràng giang – một tác phẩm văn học rất hay, ý nghĩa về tấm lòng của một con người quê hương luôn nặng lòng và suy nghĩ vì đất nước thể hiện thông qua nghệ thuật trong cách sử dụng cấu tứ và hệ thống hình ảnh có trong bài thơ.

Bài thơ đã được gợi lên nguồn cảm hứng từ một buổi chiều mùa thu ở bên bến tàu Chèm, chàng thi sĩ đã đứng bên cạnh dòng nước, ngắm nhìn đất trời và cảnh vật mà đã “tức cảnh sinh tình”. Nguồn cảm hứng khi ấy ta có thể thấy được rõ ràng thông qua câu đề từ của bài thơ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Câu đề từ này đã gợi ra được một không gian mênh mông, rộng lớn nơi mà con người có những cảm xúc chan chứa, bâng khuâng rất khó tả.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong bài thơ chính là hình ảnh của con sóng xanh nhấp nhô trùng trùng, điệp điệp. Con sóng này tầng tầng, lớp lớp ấy đã kéo theo đó là một nỗi buồn của chính nhân vật trữ tình, nhìn những con sóng nước giống như đang nhìn thấu thấy được nỗi buồn man mác ở trong lòng mình. Cùng với đó chính là hình ảnh của một con thuyền lênh đênh và chơi vơi trên dòng sông rộng lớn cũng đã gợi liên tưởng đến một kiếp con người nghèo khổ, nay đây mai đó, không biết sẽ đi đâu về đâu. Ở trong thơ Đường, chúng ta cũng đã từng bắt gặp được hình ảnh về một con thuyền và một dòng sông đầy ám ảnh, trĩu nặng về cái tình của những người đi đưa tiễn:

Cô phàm viễn cảnh bích không tận

Duy kiến Trường giang thiên tế lưu

(Lí Bạch)

Con thuyền đã dường như trở nên nhỏ bé hơn lạ thường kết hợp cùng với hình ảnh những cành củi cũng bị cuốn đi theo dòng nước lại càng tô đậm thêm được sự nhỏ bé của những sự vật hay chính là nói lên một kiếp người nhỏ bé nào đó ở trong xã hội.

Sang đến khổ thơ thứ hai của bài thơ, chúng ta đã bắt gặp được hình ảnh khái quát nên toàn bộ khung cảnh về sông nước đã được thể hiện hiện thông qua ở bốn câu thơ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

Đến bốn câu thơ này, khung cảnh bỗng trở lên vô cùng tĩnh lặng, vắng vẻ, gợi lên được một nỗi buồn sâu thẳm, thầm kín và rất khó tả. Các từ láy xuất hiện trong bốn câu như “lơ thơ”, “chót vót”, “đìu hiu” đã gợi lên được những cảm nhận về một không gian có vẻ xa xăm, sự vắng lặng một cách lạ thường, sự nhỏ bé của con người so với một vũ trụ bao la trước mắt. Cơn gió hiu hiu thổi ở trên cồn cát vắng bóng đi mất sự sống của những con người, sự vật, con người bỗng trở nên thật nhỏ bé, vô định trước một sự rộng lớn, bao la của thiên nhiên, vũ trụ. Và không gian cứ càng thêm mở rộng thì con người lại càng trở nên cô đơn, nhỏ bé đơn và buồn tủi càng nhiều hơn trước một thiên nhiên to lớn, hùng vĩ, rộng lớn nên như thế. Để rồi về sau đó, cùng với sự cô quạnh, lạnh lẽo ấy đã khiến cho tác giả của chúng ta phải thốt ra thành lời mà đã khiến cho người đọc không khỏi cảm thấy buồn lây mà cảm thán rằng:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Hình ảnh hàng bèo dạt là một hình ảnh cũng đã được nhiều lần xuất hiện ở trong thơ ca truyền thống, nhưng ở trong đoạn thơ này nó lại càng thấm thía về sự chia ly, gợi lên được sự nhỏ bé, mong manh của một kiếp người vô thường giữa dòng đời rộng lớn, chông gai. Hình ảnh đám bèo nối hàng gợi nên cảm nhận sâu sắc hơn về những kiếp người mong manh cứ phải chìm nổi để vùng vẫy tồn tại ở trong xã hội, họ vẫn ở nơi đó và ngày càng trở nên khổ đau hơn. “Không một chuyến đò ngang” cũng đã thể hiện được sự vắng bóng, thiếu đi sự gắn kết giữa con người với con người. Cảnh vật cũng càng thêm trở nên hoang vắng hơn, mênh mông như đến tận cùng giống với nỗi buồn của con người. Trên nền không gian hoang vắng ấy, hình ảnh của bãi vàng vẫn hiện lên, tô điểm thêm cho bức tranh đồng thời cũng đã tô đậm thêm cho sự thiếu sức sống, vắng lặng vốn có của cảnh vật hoang tàn. Phải chăng bởi vì lòng người u buồn cũng khiến cho cảnh vật cũng chẳng thể đẹp hơn mà lại cũng nặng trĩu tâm tư của nhân vật trữ tình trong câu chuyện?

Để rồi ở trong khổ thơ cuối đã càng bộc lộ được rõ tâm tư, tình cảm của tác giả:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Hình ảnh của cánh chim và đám mây đã tiếp tục tô điểm thêm cho một bức tranh thiên nhiên vũ trụ cực kỳ rộng lớn, cô quạnh. Sự hùng vĩ của cảnh sắc thiên nhiên, của những đám mây xanh lớp lớp nối tiếp với nhau cùng những cánh chim đang vỗ cánh bay về với tổ ấm, đã báo hiệu tới lúc hoàng hôn đang buông xuống. Sự tương phản giữa những cánh chim và bầu trời xanh lại càng làm nổi bật lên được sự tồn tại nhỏ bé như kiếp người, cũng rất nhỏ bé và vô định giữa vùng đất trời bao la, rộng lớn. Bởi vậy trong lòng người lại chỉ càng thêm tĩnh mịch và u buồn hơn. Nỗi buồn về những kiếp người, về nỗi nhớ về quê hương đầy tha thiết của một con người tại một nơi đất khách quê người đang tức cảnh sinh tình và đang bộc lộ ra nỗi lòng của mình.

Tóm lại, Tràng giang là một bài thơ cực kỳ đặc sắc cả về phần cấu tứ thơ cũng như về các hình ảnh được sử dụng ở trong bài. Không chỉ thể hiện được một sự tài hoa ở trong khả năng sáng tác thơ của Huy Cận mà nó cũng đã làm nổi bật được lên tâm tư, tình cảm trĩu nặng đượm nỗi buồn và niềm mong nhớ về quê hương da diết của tác giả. Cùng với đó, sự kết hợp đây hài hòa giữa những yếu tố cổ điển và yếu tố hiện đại cũng đã tạo nên một thi phẩm rất độc đáo về tình yêu cho quê hương, đất nước, con người đã ẩn chứa ở trong nỗi buồn thầm kín của một con người rất đa sầu, đa cảm giống như Huy Cận.

Sổ tay tổng hợp kiến thức các môn học giúp các em chinh phục điểm thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi đánh giá năng lực!!!

2. Soạn bài viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ – Sách Cánh diều

1.1 Lập dàn ý cho bài viết “Đây mùa thu tới”

Lập dàn ý cho bài viết:

Mở bài Nêu lên được vấn đề bằng một trong các cách sau: phản đề, so sánh, đặt câu hỏi,… Thân bài

Giải quyết các vấn đề, ví dụ:

– Phân tích ở khổ 1: Khi mùa thu về

+ Vẻ đẹp đầy tang tóc: Tiễn đưa đi mùa hạ

+ Vẻ đẹp đầy kiêu sa, xuất sắc của một giai nhân: Mùa thu với vẻ đẹp đầy sắc vàng mơ và kiều diễm (đem so sánh cùng với sắc xanh đặc biệt của mùa thu truyền thống ở trong thơ của nhà thơ Nguyễn Khuyến).

+…

– Phân tích ở khổ 2: Mùa thu đã ngấm sâu vào trong thế giới của cảnh vật.

+ Phân tích khổ 3:…

+ Phân tích khổ 4:…

Kết bài Tổng hợp về vấn đề bằng một trong các cách sau: tóm lược, phát triển, phối hợp giữa phần tóm lược và phần phát triển,…

>> Mời bạn tham khảo: Soạn văn 11 chương trình mới

1.2 Viết đoạn văn mở bài, kết bài hoặc một đoạn trong thân bài

a. Đoạn văn mẫu mở bài:

Nhà thơ Xuân Diệu (1916-1985) là một nhà thơ tình nổi bật trong nền văn học Việt Nam, là một ngòi bút viết hay nhất và có số lượng tác phẩm nhiều nhất ở trong thời đại chúng ta. Thi sĩ ấy đã để lại cho nền văn học khoảng trên 400 bài thơ tình; là một trong những nhà thơ “mới nhất trong tất cả những nhà thơ mới”. Xuân Diệu cũng được là thi sĩ của mùa thu. Với nhà thơ Xuân Diệu nếu như “Tình không tuổi và xuân không ngày tháng” thì cảnh thu như chứa đựng được biết bao tình thu, bao nhiêu những rung động xôn xao, bởi lẽ “Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”.

b. Đoạn văn phân tích khổ 2:

Phân tích chi tiết về bài thơ Đây mùa thu cho đến khổ thơ thứ hai, chúng ta lại càng thấm thía hơn về một khung cảnh đầy ảm đạm của mùa thu. Dưới con mắt cực kỳ nhạy cảm, tinh tế nhưng cũng chứa đầy những nỗi u uất của nhà thơ Xuân Diệu, mùa thu đã tới và mang theo những sự chia lìa, khoảng thời gian mà các loài hoa đã thay nhau và rụng xuống. Thay vì những sắc xanh đầy tươi trẻ của một mùa hè năng động thì giờ đây bao trùm lên là một sắc đỏ ấm đã chiếm lấy chỗ và xua đuổi đi màu xanh tươi mát ấy đi để chiếm trọn lấy không gian của mùa thu cho riêng bản thân mình. Không chỉ có thế, mùa thu tới và mang đến theo là những cơn gió heo may hơi se se lạnh, khiến cho những cành hoa lá cây rung rinh lên một cách run rẩy chứ không phải là rung rinh lên vì vui vẻ giống như khi đang ở mùa hè. Cùng với đó là những cành cây đã rụng hết và chỉ còn lại trơ xương gầy guộc, mỏng mảnh và thiếu đi sức sống vốn có của nó.

“Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;

Những luồng run rẩy rung rinh lá…

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”.

Cả trong một khổ thơ, tác giả Xuân Diệu đã sử dụng phối hợp về màu sắc cùng với các nét chấm phá để có thể khắc họa được lên bức tranh về mùa thu đầy xơ xác, khô héo và thiếu sức sống. Dường như nó đã ẩn chứa bên trong mình là một dáng vẻ thất vọng, đầy chán chường của tâm trạng một con người khi trong thời đại ấy. Con người nước ta trong khoảng thời gian trước khi Cách mạng tháng tám thành công hay cũng chính là nhà thơ đang thấy bản thân mình đang thiếu đi sức sống vốn có, không biết phải bấu víu vào đâu để đi lên và cảm thấy đang run rẩy trước dòng chảy vô định của thời gian. Bốn câu thơ trên đều sử dụng phép nghệ thuật đảo ngữ, nhằm nhấn mạnh lên những thay đổi nhanh chóng của thiên nhiên khi mùa thu đến và cũng nhằm làm nổi bật lên được nét thu chứa đầy nỗi buồn thương.

c. Đoạn phân tích mẫu khổ ba:

Thi liệu trong đoạn thơ vừa hiện thực hóa cũng vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa được những dáng vẻ truyền thống cũng vừa mang sự cách tân, sáng tạo ở trong khổ thơ thứ ba của bài đã được sử dụng một cách khá là triệt để: là “nàng trăng tự ngẩn ngơ” ở trên bầu trời cao. Một hình ảnh rất đẹp, thơ mộng miêu tả nên vầng trăng ngày thu. Hình ảnh những quả núi cao thấp, nhấp nhô ẩn hiện ở trong làn sương mờ lại càng làm nổi bật lên được những hình ảnh cảnh vật trong tiết trời mùa thu. Trăng và núi ở trong thơ của Xuân Diệu chứa đựng cái hồn của mùa thu muôn thuở trong xứ sở của quê hương, gần gũi và thân thuộc với chúng ta từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp và thơ mộng:

“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

Non xa khởi sự nhạt sương mờ… “

“Đã nghe rét mướt luồn trong gió,

Đã vắng người sang những chuyến đò”

Hai tiếng “đã nghe”, “đã vắng” đã gợi tả lên được cái không gian rộng lớn, bao la, vắng vẻ của những buổi chiều ngày thu xen lẫn với chút không khí se se lạnh. Chúng ta cũng cảm thấy được những sự chuyển đổi cảm giác giữa các giác quan như xúc giác và thính giác. Bằng sự cảm nhận tinh tế của thi nhân về cái rét, về cơn gió, về cái sự xa vắng không chỉ bằng sự tri giác qua những giác quan mà còn bằng sự cảm nhận sâu sắc bằng cả linh hồn nữa. Như chính tác giả cũng đang đứng ở giữa chiều gió thu, se se lạnh, chữ “luồn” trong câu thơ đã cụ thể hóa được cái rét và tác giả đã cảm nhận được nó bằng trực giác của ông.

d. Đoạn phân tích mẫu khổ cuối

Đâu đẹp bằng những hình ảnh thiên nhiên tuyệt diệu và đẹp đẽ ở khổ thơ cuối. Có những vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, của những cánh chim, xuất hiện thêm cả vẻ đẹp của người thiếu nữ. Cảnh đẹp, người đẹp nhưng lại man mác thoáng có nỗi buồn mơ hồ mênh mông. Mây và cánh chim đã gợi lên được nỗi buồn chia ly đẹp giống như “bèo dạt mây trôi” ở trong các bản tình ca!

“Mây vẩn từng không chim bay đi,

Khí trời u uất hận chia ly”…

“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,

Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”

Bao giờ trong thơ ca của Xuân Diệu sẽ luôn xuất hiện những hình bóng của tuyệt tác giai nhân. “Đây mùa thu tới” cũng là một trong các tác phẩm như vậy, bài thơ đã xuất hiện hình bóng của một giai nhân đang trong tương tư, đang mộng tưởng. Đó cũng là một nét viết mới mẻ khi nói về mùa thu ở trong thơ của tác giả Xuân Diệu. Giữa một khung cảnh mùa thu có phần tang thương ấy, hình ảnh của người thiếu nữ đang đắm mình trong nỗi buồn không nói gì lại càng làm cho bức tranh trở nên thêm phần sầu thảm. Người thiếu nữ ấy có cái nhìn rất xa xăm, vô định, người đang nghĩ ngợi mông lung về điều gì đó mà không ai biết được chính xác là cô ấy đang nghĩ về điều gì. Dường như đó cũng chính là tâm tư thật lòng của nhà thơ khi người đang khao khát một điều gì đó nhưng lại không thể biết được chính xác là đang nghĩ tới điều gì. Cái hình ảnh “tự cửa” khi nhìn xa xăm không nói nhưng sao mà ại buồn thảm, sao mà lại bất an và nhiều lo lắng đến như thế. Dường như mọi con người cũng đang không biết phải bấu víu vào đâu, không biết nên đi đâu về đâu giữa một cuộc đời đầy rẫy những bất an đó.

Toàn bộ bài thơ chính là một bức tranh về mùa thu buồn được Xuân Diệu vẽ lên bằng những bút pháp nghệ thuật mới mẻ và độc đáo. Nhà thơ đã sử dụng trong bài thơ những từ láy mang tính gợi cảm giác như “run rẩy”, “ngẩn ngơ”, “đìu hiu”, “mỏng manh”… Nhờ những từ láy đặc biệt đó là bức tranh mùa thu lại càng trở nên sinh động hơn, có sức hút hơn với mọi người đọc. Đặc biệt, những cách đảo ngữ của tác giả cũng rất thú vị càng giúp cho bài thơ có thể bộc lộ rõ hơn được sự biến chuyển của thời gian, không gian và tâm trạng đầy não nề của tác giả. Với một thể thơ tự do, nhà thơ đã cho thấy rằng tâm hồn của mình thật phóng khoáng, không bị gò hay có rào cản ở trong bất kỳ một khuôn mẫu nào cả. Nhờ thế mà cũng đã khiến cho bài thơ cũng khá dễ đi vào lòng người, dễ hiểu, dễ thuộc và cũng dễ cảm nhận hơn.

e. Đoạn văn mẫu kết bài:

Bút pháp tạo hình nghệ thuật ở trong tác phẩm Đây mùa thu tới là những sự tác động đến từng các giác quan của con người ở trong hàng thông báo chỉ mang tính chất những cái có giá trị ở trong đời sống đang dần bị hủy diệt, chúng đang bị lụi tàn đi trong giá lạnh. Tất cả cũng chỉ mới bắt đầu thật sự khi không phải mọi đóa hoa đều rụng đi mà chỉ là “một loài hoa ”. Không phải là tất cả các tán cây lá xanh sẽ đều bị tuyệt diệt đi sắc xanh mà do là màu đó đang hơi rua rủa màu xanh. Không phải tất cả mọi cành cây đều khô héo mà chỉ là những “đôi nhánh khô già”. Không phải bất kỳ luồng gió nào cũng khiến cho chúng ta cảm thấy lạnh lẽo mà “rét mướt” chỉ mới ngấm ngầm dần vào trong luồng gió mùa thu. Tính giao mùa đầy hấp hối đó lại càng thêm thấm thía hơn bởi do chính những vùng màu sắc ý nghĩa của màu áo mơ phai, luồng run rẩy, đã nghe thấy rét mướt. Người đọc nhiều lúc cũng thấy có cảm giác mới mẻ mùa thu đã thực sự đang chiếm hữu lấy những cảnh vật, thậm chí có chút hơi thở của mùa đông đã có mặt ở trong mùa thu ấy… Tất cả những điều ấy chính là một phiến âm bài ở trong phong cách văn học và tư tưởng của nhà thơ Xuân Diệu. Với một tình yêu nồng nàn với cuộc sống, Xuân Diệu cũng rất sợ khi từng giây từng phút của cuộc sống con người cũng như chính ông đang bị gặm nhấm, tàn phai, rất sợ khi tuổi trẻ này lại càng trôi đi và làm cho tâm hồn già đi. Nói tóm lại, về mặt tư tưởng thì tác phẩm Đây mùa thu tới là sự nhớ nhung với cái sự Xuân không tuổi của nhà thơ Xuân Diệu, tuổi xuân tươi trẻ và kì diệu mới chính là bản chất trong văn thơ và con người của ông.

1.3 Viết bài văn hoàn chỉnh

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn trong phong trào thơ của Việt Nam và đặc biệt vô cùng thành công khi ông bắt đầu viết về đề tài mùa thu. Với tác phẩm thơ “Đây mùa thu tới”, người thi sĩ ấy đã mang đến cho đọc giả chúng ta những cảm nhận khi đọc thơ vừa tinh tế, nhưng cũng vừa mới mẻ về một bức tranh vẽ lên mùa thu vô cùng đẹp, lãng mạn nhưng bên cạnh đó cũng thấm đượm một chút nỗi buồn và sự xót xa.

Ngay từ tiêu đề của văn bản “Đây mùa thu tới”, độc giả cũng đã phần nào có thể hiểu được về nội dung chủ yếu xuyên suốt bài thơ là gì. Đó là bài thơ đã nói về mùa thu nhưng lại không phải là giữa mùa thu hay là khoảng thời điểm cuối thu. Mà lại là thời gian đương lúc giao mùa và mùa thu mới tới, đất trời và cảnh vật vừa mới tiễn biệt đi mùa hè xanh mát, tươi trẻ để đón chào mùa thu đìu hiu tới. Khi đang ngắm nhìn sự chuyển đổi trong khoảnh khắc giao mùa của đất trời đó, nhà thơ Xuân Diệu đã phát hiện ra rằng:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”.

Không gian đất trời đã hiện ra với một dáng vẻ “đìu hiu”, buồn tẻ và vắng vẻ. Rặng liễu bỗng trở nên trầm mặc tưởng như đang “đứng chịu tang”. Những cành lá liễu thì buông dài giống như tóc của nàng cô phụ “buồn buông xuống”. Sương mùa thu rơi ướt đẫm trên những nhánh cành liễu đã khiến cho tác giả phải ngâm nga một câu thơ đã khiến cho chúng trở nên có hồn hơn rất nhiều. Những cành liễu cũng giống như những cô gái trẻ trung và thướt tha, nhưng đôi mắt của họ lại buồn đẫm lệ. Biện pháp nghệ thuật sử dụng các láy âm được nhà thơ tài ba Xuân Diệu vận dụng một cách rất tài tình để có thể tạo nên được những vần thơ rất giàu những âm điệu, nhạc điệu có lúc vui, có lúc buồn, có lúc trầm uất u ám: “đìu hiu – chịu”, “tang – ngàn – hàng”, “buồn – buông – xuống”. Trong đoạn thơ này cũng đã tạo nên được những nét thú vị ở trong thơ của tác giả Xuân Diệu những năm đầu của thế kỷ XX.

Ngắm nhìn những rặng liễu la đà, đột nhiên tác giả cũng chợt nhận ra rằng mùa thu đã tới đây, với việc tác giả sử dụng cách ngắt nhịp 4/3 kết hợp cùng với điệp ngữ “mùa thu tới” đã diễn tả được từng bước đi chậm rãi của mùa thu và nỗi niềm mong đợi ngày thu về hàng bấy lâu nay ở trong lòng người thi sĩ.

“Đây mùa thu tới mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng”.

Cách sử dụng điệp vần lưng thần tình: “tới – với”, với một chữ “dệt” vô cùng tinh tế trong cách miêu tả và cảm nhận. Thu tới nơi cũng chính là lúc cảnh vật muôn nơi được nhuộm trên mình bởi một màu vàng, màu ấm áp bởi những loài cây đổi lá, nó còn được dệt lên một cách tỉ mỉ và mang tới một vẻ đẹp thuần khiết nhưng không phải tự dưng mà có. “Với áo mơ phai dệt lá vàng” đây là một câu thơ hay và thi vị biết bao, đã nói lên được cái hồn thu cùng với sắc lá, đã gợi lên được cảm giác rất thanh nhẹ, tươi sáng về một mùa thu đáng yêu vô cùng. Tuy nhiên mùa thu đó cũng chính là sự bắt đầu với một nỗi buồn man mác, ảm đạm và hắt hiu.

Dưới một con mắt nghệ thuật nhạy cảm, tinh tế nhưng cũng chứa đầy những nỗi u uất của nhà thơ, mùa thu đi tới và bên cạnh đó là mang theo cùng đó sự chia lìa, trong khi các loài hoa thì đang thay nhau rụng xuống. Thay màu vì sắc xanh tươi trẻ và năng động của những ngày hè thì giờ đây những sắc đỏ đã chiếm chỗ, bao trùm lên và xua đuổi đi màu xanh tươi trẻ ấy đi để có thể chiếm trọn được bầu không gian mùa thu cho riêng bản thân mình. Không chỉ có thế, mùa thu tới và mang đến theo là những cơn gió heo may hơi se se lạnh, khiến cho những cành hoa lá cây rung rinh lên một cách run rẩy chứ không phải là rung rinh lên vì vui vẻ giống như khi đang ở mùa hè. Cùng với đó là những cành cây đã rụng hết và chỉ còn lại trơ xương gầy guộc, mỏng mảnh và thiếu đi sức sống vốn có của nó.

“Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.

Những luồng run rẩy, rung rinh lá,

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”.

Ở trong khổ thơ này, tác giả đã sử dụng thêm những từ láy để miêu tả cảnh như: “run rẩy”, “rung rinh”, “mỏng manh” đây là những ngôn từ giống như những nét vẽ thần diệu đã gợi tả nên được cái run rẩy, cái rùng mình của những loài cây lá ở trong buổi chiều thu. Đặc biệt với hình ảnh là sắc đỏ “ rủa “ màu xanh đã khiến cho câu thơ mang trên mình một nét đẹp nghệ thuật vô cùng độc đáo. Màu xanh đó không mươn mướt như viên ngọc mà lại từ từ và lan rộng ra, và mọi thứ như dần dần ngấm chất thu vào trong đó.

Thi liệu trong đoạn thơ vừa hiện thực hóa cũng vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa được những dáng vẻ truyền thống cũng vừa mang sự cách tân, sáng tạo ở trong khổ thơ thứ ba của bài đã được sử dụng một cách khá là triệt để: là “nàng trăng tự ngẩn ngơ” ở trên bầu trời cao. Một hình ảnh rất đẹp, thơ mộng miêu tả nên vầng trăng ngày thu. Hình ảnh những quả núi cao thấp, nhấp nhô ẩn hiện ở trong làn sương mờ lại càng làm nổi bật lên được những hình ảnh cảnh vật trong tiết trời mùa thu. Trăng và núi ở trong thơ của Xuân Diệu chứa đựng cái hồn của mùa thu muôn thuở trong xứ sở của quê hương, gần gũi và thân thuộc với chúng ta từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp và thơ mộng:

“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

Non xa khởi sự nhạt sương mờ… “

“Đã nghe rét mướt luồn trong gió,

Đã vắng người sang những chuyến đò”

Hai tiếng “đã nghe”, “đã vắng” đã gợi tả lên được cái không gian rộng lớn, bao la, vắng vẻ của những buổi chiều ngày thu xen lẫn với chút không khí se se lạnh. Chúng ta cũng cảm thấy được những sự chuyển đổi cảm giác giữa các giác quan như xúc giác và thính giác. Bằng sự cảm nhận tinh tế của thi nhân về cái rét, về cơn gió, về cái sự xa vắng không chỉ bằng sự tri giác qua những giác quan mà còn bằng sự cảm nhận sâu sắc bằng cả linh hồn nữa. Như chính tác giả cũng đang đứng ở giữa chiều gió thu, se se lạnh, chữ “luồn” trong câu thơ đã cụ thể hóa được cái rét và tác giả đã cảm nhận được nó bằng trực giác của ông.

Đâu đẹp bằng những hình ảnh thiên nhiên tuyệt diệu và đẹp đẽ ở khổ thơ cuối. Có những vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, của những cánh chim, xuất hiện thêm cả vẻ đẹp của người thiếu nữ. Cảnh đẹp, người đẹp nhưng lại man mác thoáng có nỗi buồn mơ hồ mênh mông. Mây và cánh chim đã gợi lên được nỗi buồn chia ly đẹp giống như “bèo dạt mây trôi” ở trong các bản tình ca!

“Mây vẩn từng không chim bay đi,

Khí trời u uất hận chia ly”…

“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,

Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”

Bao giờ trong thơ ca của Xuân Diệu sẽ luôn xuất hiện những hình bóng của tuyệt tác giai nhân. “Đây mùa thu tới” cũng là một trong các tác phẩm như vậy, bài thơ đã xuất hiện hình bóng của một giai nhân đang trong tương tư, đang mộng tưởng. Đó cũng là một nét viết mới mẻ khi nói về mùa thu ở trong thơ của tác giả Xuân Diệu. Giữa một khung cảnh mùa thu có phần tang thương ấy, hình ảnh của người thiếu nữ đang đắm mình trong nỗi buồn không nói gì lại càng làm cho bức tranh trở nên thêm phần sầu thảm. Người thiếu nữ ấy có cái nhìn rất xa xăm, vô định, người đang nghĩ ngợi mông lung về điều gì đó mà không ai biết được chính xác là cô ấy đang nghĩ về điều gì. Dường như đó cũng chính là tâm tư thật lòng của nhà thơ khi người đang khao khát một điều gì đó nhưng lại không thể biết được chính xác là đang nghĩ tới điều gì. Cái hình ảnh “tự cửa” khi nhìn xa xăm không nói nhưng sao mà ại buồn thảm, sao mà lại bất an và nhiều lo lắng đến như thế. Dường như mọi con người cũng đang không biết phải bấu víu vào đâu, không biết nên đi đâu về đâu giữa một cuộc đời đầy rẫy những bất an đó.

Bút pháp tạo hình nghệ thuật ở trong tác phẩm Đây mùa thu tới là những sự tác động đến từng các giác quan của con người ở trong hàng thông báo chỉ mang tính chất những cái có giá trị ở trong đời sống đang dần bị hủy diệt, chúng đang bị lụi tàn đi trong giá lạnh. Tất cả cũng chỉ mới bắt đầu thật sự khi không phải mọi đóa hoa đều rụng đi mà chỉ là “một loài hoa ”. Không phải là tất cả các tán cây lá xanh sẽ đều bị tuyệt diệt đi sắc xanh mà do là màu đỏ đang rủa màu xanh đi để thế chỗ. Không phải tất cả mọi cành cây đều khô héo mà chỉ là những “đôi nhánh khô già”. Không phải bất kỳ luồng gió nào cũng khiến cho chúng ta cảm thấy lạnh lẽo mà “rét mướt” chỉ mới ngấm ngầm dần vào trong luồng gió mùa thu. Tính giao mùa đầy hấp hối đó lại càng thêm thấm thía hơn bởi do chính những vùng màu sắc ý nghĩa của màu áo mơ phai, luồng run rẩy, đã nghe thấy rét mướt. Người đọc nhiều lúc cũng thấy có cảm giác mới mẻ mùa thu đã thực sự đang chiếm hữu lấy những cảnh vật, thậm chí có chút hơi thở của mùa đông đã có mặt ở trong mùa thu ấy… Tất cả những điều ấy chính là một phiến âm bài ở trong phong cách văn học và tư tưởng của nhà thơ Xuân Diệu. Với một tình yêu nồng nàn với cuộc sống, Xuân Diệu cũng rất sợ khi từng giây từng phút của cuộc sống con người cũng như chính ông đang bị gặm nhấm, tàn phai, rất sợ khi tuổi trẻ này lại càng trôi đi và làm cho tâm hồn già đi. Nói tóm lại, về mặt tư tưởng thì tác phẩm Đây mùa thu tới là sự nhớ nhung với cái sự Xuân không tuổi của nhà thơ Xuân Diệu, tuổi xuân tươi trẻ và kì diệu mới chính là bản chất trong văn thơ và con người của ông.

Đã có rất nhiều những nhà thơ khác cũng lấy đề tài mùa thu để làm chủ đề ở trong nhiều những tác phẩm của mình. Nếu như Nguyễn Khuyến là người có những chùm thơ thu đi kèm với nỗi buồn đầy hoang vắng hiu quạnh thì ở đây, Xuân Diệu đã viết về một nỗi buồn chia ly đầy tang thương sầu muộn, sự tiếc nuối của loài người đối với mùa hạ và có phần buồn man mác khi thu tới. Đó dường như cũng chính là tâm trạng chung của hầu hết các nhà thi sĩ, nhà văn của đất nước Việt Nam thời kỳ trước khi Cách mạng tháng 8 thành công.

Trên đây, VUIHOC đã cung cấp cho các bạn cách soạn bài viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ thông qua phân tích sơ lược một số tác phẩm thơ ca có trong sách kết nối tri thức và sách cánh diều. Ngoài ra, để học thêm nhiều hơn về các kiến thức có trong các môn học thuộc chương trình THPT thì các em hãy truy cập vuihoc.vn hoặc đăng ký khoá học với các thầy cô VUIHOC ngay bây giờ nhé!

>> Mời bạn tham khảo:

  • Thực hành Tiếng Việt – Một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường: đặc điểm và tác dụng
  • Con đường mùa đông – Puskin
  • Tràng giang
Back to top button